Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Tràn khí màng phổi

I – ĐẠI CƯƠNG

Khi không khí tràn vào ổ màng phổi thì lá thành và lá tạng sẽ tách ra, tạo nên một khoảng chứa khi, gọi là hiện tượng tràn khi màng phổi.

Hiện tượng tràn khí màng phổi thường là bệnh lý, nhưng cũng có trường hợp bơm không khí vào ổ màng phổi để điều trị: phương pháp ép phổi.

Khi có thể tràn vàoổ màng phổi, xâm chiếm toàn bộ ổ màng phổi gọi là tràn khí màng phổi toàn bộ, nếu chỉ xâm chiếm một phần gọi là tràn khí màng phổi cục bộ (loại này thể hiện rất âm thầm).

Lâm sàng và điện quang xoay quanh hai yếu tố: thủng màng phổi và sự có mặt của không khí trong ổ màng phổi.


II. TRIỆU CHỨNG

Chúng tôi lấy hội chứng tràn khí màng phổi toàn bộ làm điển hình.

A – TRIỆU CHỨNG CHỨC NĂNG.

1. Hiện tượng đau chói ở ngực: người bệnh đột nhiên đau chói ở ngực đau như xé phổi, có thể gây sốc, tái xanh người, vã mồ hôi, mạch đập nhanh, huyết áp hạ.

2. Hiện tượng khó thở: xảy ra ngay sau người bệnh đau chói ở ngực khó thở rất nhiều, người bệnh thường ở trong bệnh cảnh sốc.

Những triệu chứng sốc này cũng biến dần đi cùng các triệu chứng chức năng kể trên, đau giảm đi, khu trú ở vùng xương bả hay dưới núm vú.

Còn đối với tràn khí gây ra để điều trị thì triệu chứng chức năng hầu như không đáng kể vì nó không phải do thủng màng phổi và không khí đưa từ ngoài vào chậm với một số lượng đã quy định sẵn, vì vậy không có hội chứng sốc, đau không đáng kể, người bệnh nghỉ ngơi thì không khó thở nữa.

B- TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ

Trong hội chứng tràn khí toàn bộ, triệu chứng thực thể rất phong phú.

1. Nhìn: nửa ngực bị tràn khí thì lồng ngực bất động, khoảng liên sườn giãn ra, ngực bên đó cũng phình ra.

2. Sờ: Rung thanh mất.

3. Gõ: tiếng vang trống, một dấu hiệu điển hìonh của tràn khí màng phổi.

4. Nghe: triệu chứng chủ yếu là mất tiếng rì rào phế nang.

Ba triệu chứng: Rung thanh mất; Rì rào phế nang mất; Tiếng gõ vang trống.

Hợp thành tam chứng Galliard.

Khi nghe, đôi khi ta còn có thể thấy được một tiếng thổi vò. Tiếng vang kim khí, tiếng vang vò của tiếng nói và của tiếng ho. Những triệu chứng này không có thường xuyên và xảy ra muộn so với ba triệu chứng chính kể trên.

Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác: do sự thay đổi vị trí của các cơ quan. Mất tiếng gõ đục vùng gan trong trường hợp tràn khí màng phổi phải, mất tiếng đục vùng tim vì tim bị đẩy sang phải, trong trường hợp tràn khí màng phổi trái.

C- TRIỆU CHỨNG XQUANG

- Qúa sáng bên có bệnh .

- Khoảng liên sườn giãn, chiều các xương sườn bé ngang ra.

- Phổi bị co lại thành một cục xẹp xuống sát rốn phổi.

- Cơ hoành không di động và bị đẩy xuống, trung thất bị đẩy sang bên lành (Hình 42,43,44)



D – TRIỆU CHỨNG ÁP LỰC KẾ

Cần phải biết để phân biệt hội chứng tràn khí màng phổi. Ta thường đo áp lực không khí trong ổ màng phổi bằng máy Kuss, có 3 trường hợp xảy ra:

1. Áp lực tràn khí màng phổi bằng áp lực khí trời: đó là tràn khí mà phổi mở, vẫn còn lỗ thông giữa màng phổi với không khí bên ngoài.

2. Áp lực tràn khí màng phổi thấp hơn áp lực khí trời: đó là tràn khí màng phổi đóng chỗ thủng đã được gắn lại, không khí không vào thêm được nữa. Loại này tiên lượng tốt.

3. Áp lực tràn khí màng phổi cao hơn áp lực khí trời: không khí vào ổ màng phổi được, nhưng không ra được nên thể tích không khí càng ngày càng tăng, làmm cho người bệnh càng khó thở, đó là tràn khí màng phổi có van, loại này rất nặng, thường thì người bệnh chết ngay vì ngạt thở và sốc.

Nếu không có máy Kuss ta có thể dùng ống bơm tiêm:

- Nếu pittông (Piston) đứng yên: Tràn khí màng phổi mở.

- Nếu pittông (Piston) bị hút vào: tràn khí màng phổi đóng.

- Nếu pittông (Piston): tràn khí màng phổi có van.

Nếu hội chứng tràn khí màng phổi thường rõ ràng, để chẩn đoán bằng lâm sàng cũng như chẩn đoán bằng Xquang, thì trái lại, Hội chứng tràn khí màng phổi cục bộ rất kín đáo, ít khi chẩn đoán được bằng lâm sàng vì:

- Về chức năng: người bệnh không khó thở chỉ hơi đau ngực.

- Về thực thể: hội chứng tràn khí khu trú ở một vùng nhỏ cho nên rất khó phát hiện.

Chẩn đoán tràn khí màng phổi cục bộ thường là một phát hiện của Xquang: thấy một hình hơi ở ria phổi giữa nhu mô phổi và lồng ngực. Hình ảnh đó cần được phân biệt với một hang phổi bằng cách nhận xét góc của hình hơi đó: góc của tràn khí cục bộ thì nhọn, góc cuảa hang phổi thì tù, ngoài ra khi người bệnh ho, tràn khí cục bộ không nháy, trái lại nếu là hang phổi thì hình đó sẽ nháy.


III – NGUYÊN NHÂN

1. Do lao: phần lớn (60%) tràn khí màng phổi tự phát là do lao. Nó có thể là bệnh cảnh mở đầu một quá trình lao, nhưng thường là biến chứng của một bệnh lao phổi tiến triển.

2. không rõ nguyên nhân: thường xảy ra ở người trẻ, khoẻ mạnh. Tràn khí toàn bộ một bên ổ màng phổi không tiến triển thành một tràn dịch, hay tái phát, người ta cho rằng có thể ;là do kén hơi ở phổi vỡ ra.

3. Các bệnh khác ở phổi, không phải lao: Áp xe phổi vỡ ra ở màng phổi ho gà…


IV- MỘT SỐ HÌNH ẢNH


Nguồn : ykhoa.net

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

COPD-Phác đồ chẩn đoán & điều trị

I. LÂM SÀNG COPD
    1. Cơ năng :Tam chứng cổ điển : Ho - khạc đàm - khó thở
    2. Thực thể : 
      • Tím trung ương
      • Lồng ngực hình thùng, khoảng gian sường nằm ngang, giãn rộng
      • Dấu Hoover: dẹt ½ cơ hoành phối hợp sự thu lại vào trong nghịch lý của đáy lồng ngực trong kì hít vào 
      • Tần số thở lúc nghỉ > 20l/p, nhịp thở nông.
      • Mím môi lại khi thở ra 
      • APB giảm, rale Wheezing
      • BMI < 21kg/m2
    II. CẬN LÂM SÀNG
    1. X-quang ngực
      • Tăng sáng 02 phế trường
      • Khoãng gian sườn nằm ngang và giãn rộng
      • Vòm ohành xuống thấp 
    2. Chức năng hô hấp : TC VÀNG để chẩn đoán COPD
    • Mục đích : Giúp trả lờ
      • Có tắc nghẽn
      • Mức độ tắc nghẽn
      • Hội chứng hạn chế phối hợp
    • Đọc kết quả
      • Chỉ số Gaensler : FEV1/FVC < 70% ==>có tắc nghẽn
      • FEV1 giảm so với dự đoán ==> mức độ tắc nghẽn

    3. Khí máu động mạch
    Thực hiện để đánh giá có suy hô hấp hay không, cấp hay mạn, mức độ suy hô hấp,...Thường chỉ làm khi giai đoạn đợt cấp/giai đoạn III-IV.

    4. XN thường quy khác 
      • Công thức
      • Đường huyết
      • CRP
      • Ion đồ
      • Chức năng gan, thận
      • Cấy đàm, BK đàm nếu cần
      • Tổng phân tích nước tiều
      III. ĐỢT CẤP COPD


      1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp : Có từ 2/3 tiêu chuẩn sau
          • Ho nhiều hơn
          • Khó thở tăng
          • Thay đổi tính chất đàm
      2. Chẩn đoán mức độ nặng của đợt cấp : Dựa vào mức độ suy hô hấp

      3. Chẩn đoán nguyên nhân đợt cấp 


      IV. VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN
      1. COPD ổn định : Có COPD hay không? Giai đoạn? Biến chứng?Bệnh kèm theo?
      2.  COPD đợt cấp : Có đợt cấp? Mức độ đợt cấp? Nguyên nhân?Biến chứng?Bệnh kèm?
        V. XỮ TRÍ

        1. Nguyên tắc chung
        • Ngưng ngay việc tiếp xúc với các nguy cơ
        • Việc điều trị COPD tuỳ theo giai đoạn, đợt cấp hay ôn định 
        • Tiêm phòng cúm
        2. Điều trị COPD ổn định : theo giai đoạn


        3. Xữ trí đợt cấp


        --------------------------------------------------------------------------------------------------------

        Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

        Lao - Một số khái niệm

        MỘT SỐ KHÁI NIỆM

        KHÁI NIỆM
        ĐỊNH NGHĨA/ TIÊU CHUẨN


        1. Lao phổi AFB(+)
        Khi có một trong các :
        1. ≥ 2 tiêu bản có AFB(+) từ 02 mẫu đàm khác nhau
        2. Một tiêu bản AFB(+) + Hình ảnh lao tiến triển trên XQ
        3. Một tiêu bản AFB(+) và Cấy (+)
        Người HIV : 01 tiêu bản AFB(+)



        2. Lao phổi AFB(-)
        Khi có một trong hai :
        1. 02 lần xn đàm (Cách nhau 02 tuần) điều AFB(-) nhưng có hình ảnh lao phổi tiến triển. Kết luận do bs chuyên khoa
        2. Đàm AFB (-) nhưng cấy (+)
        Người HIV : AFB 02 lần âm tính, có hình ảnh lao nhưng không đáp ứng với KS phổ rộng. Do bs chuyên khoa lao kết luận.
        3. Lao mới
        Người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc hoặc mới dùng thuốc chống lao dưới 1 tháng
        4. Lao tái phát
        Người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác định là khỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại AFB (+)
        5. Lao điều trị thất bại
        Người bệnh mới điều trị lần đầu, còn AFB(+) trong đờm từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ điều trị
        6. Lao điều trị lại sau bỏ trị
        Người bệnh không dùng thuốc trên 2 tháng liên tục trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị từ đầu với AFB (+) trong đờm
        7. Chuyển đến
        Người bệnh được chuyển từ đơn vị khác đến để tiếp tục điều trị
        8. Lao mạn tính
        Người bệnh vẫn còn vi khuẩn lao trong đờm sau khi đã dùng công thức tái trị có giám sát chặt chẽ việc dùng thuốc
        9. Lao phổi AFB(+) khác
        Là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây nhưng không xác định được phác đồ và kết quả điều trị, nay chẩn đoán là lao phổi AFB(+)
        10. Lao phổi AFB(-) khác
        Là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây, nay chẩn đoán lao phổi AFB(-)
        11. Lao ngoài phổi khác
        Là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây, nay chẩn đoán lao ngoài phổi


        Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

        VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG DO VI TRÙNG

        I. KHÁI NIỆM
        Viêm phổi là những tổn thương phổi do những tác nhân(Vi trùng, virus, KST,…) gây nên.
        Viêm phổi có thể xảy ra ngoài cộng đồng hay trong bệnh viện
        Là bệnh nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp, nguy hiểm, chi phí điều trị cao.
        Trong phần này chỉ đế cập đén viêm phổi ngoài cộng đồng


        II. TÁC NHÂN THƯỜNG GẶP
        50% trường hợp không rõ bệnh nguyên
        Một số trường hợp viêm phổi do nhiều tác nhân : tác nhân thường gặp và những tác nhân không điển hình.
        Viêm phổi không điển hình là dùng để chỉ tác nhân ‘không điển hình’ (M.pneumoniae,  C.pneumoniae, Legionella spp, …) chứ không phải bệnh cảnh lâm sàng.
        Những tác nhân phổ biến là :
        • Không rõ bệnh nguyên : 40-50%
        • Streptococcus pneumoniae
        • Mycoblasma pneumoniae
        • Chlamydia pneumoniae
        •  Legionella spp
        •  Virus

        III. YẾU TỐ NGUY CƠ VỚI NHỮNG TÁC NHÂN ĐẶC BIỆT
        1. Nguy cơ nhiễm phế cầu kháng thuốc và kháng PNC
        • Tuổi >65t
        • Dùng kháng sinh nhóm beta-lactam trong 03tháng gần đây
        • Nghiện rượu
        • Suy giảm MD ( bệnh, thuốc corticoides)
        • Nhiều bệnh lý nội khoa kết hợp
        • Tiếp xúc trẻ em ở trung tâm chăm sóc ban ngày

        2. Nguy cơ viêm phổi do VK Gr(-) đường ruột
        • Sống tại viện dưỡng lảo, viện điều dưỡng
        • Bệnh tim, phổi mạn tính
        • Nhiều bệnh nội khoa phối hợp
        • Mới điều trị kháng sinh
        3. Nguy cơ nhiễm Pseudomonas aeruginosa
        • Bệnh cấu trúc phổi (Giản phế quản) có sẵn
        • Điều trị glucocorticoides kéo dài ( Prednisone >10mg/ngày)
        • Điều trị KS phổ rộng >7 ngày trong tháng qua
        • Suy dinh dưỡng
        IV. TRIỆU CHỨNG
        1. Lâm sàng
        • Sốt
        •  Ho đàm, chú ý màu sắc đàm có thể hướng đến tác nhân
        • Đau ngực, khó thở
        • Nghe : rale phổi, hội chứng đông đặc phổi
        2. Cận lâm sàng
        • Bạch cầu máu (Neutrophil) tăng
        •  CRP tắng
        • XQ ngực : các tổn thương có thể gặp
        o   Viêm phổi thuỳ
        o   Phế quản phế viêm
        o   Viêm phổi mô kẻ
        • Cấy đàm và kháng sinh đồ
        • Các xét nghiệm khác
        o   Huyết thanh chẩn đoán VK không điển hình
        o   CT ngực
        o   Nội soi phế quản
        • Các xét nghiệm thường quy
        V. CHẨN ĐOÁN

        1. Chẩn đoán xác định viêm phổi
        Dựa vào lâm sàng,công thức máu, XQ ngực
        Bảng tóm tắt

        Viêm phổi điển hình
        Viêm phổi không điển hình
        Triệu chứng cơ năng
        • Sốt đột ngột, thường >39 độ C, ±rét run
        • Ho khan lúc đầu, sau khạc đàm đục
        •  Đau ngực kiểu màng phổi(±)
        • Khó thở (±)
        • Herpes labialis : có 40% trong phế cầu



        §  Sốt nhẹ, từ từ
        §  Ho khan hoặc ít đàm nhầy
        §  Không đau ngực
        §  Hiếm khi khó thở
        §  Triệu chứng ngoài phổi : đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, đau họng, buồn nôn, tiêu chảy
        Triêu chứng thực thể
        • Rale nổ tại vùng phổi tổn thương(±)
        • HC đông đặc kèm âm thổi ống (20%)(±) tiếng cọ màng phổi (10%)
        • (±) vài rale phế quản
        • §  Không có HC đông đặc
        • §  Có thể có lú lẩn, mất định hướng ở người già (Legionella spp) 

        Mầm bệnh thường gặp
        Streptococcus pneumoniaHemophilus influenzaMoraxella catarrhalis (COPD)
        Mycoplasma pneumoniaChlamydia pneumoniaLegionella sppVK kỵ khí


        2. Chẩn đoán mức độ nặng
        A> Theo FINE,1997

        Đặc điểm bệnh nhân

        Điểm
        Tuổi
        §  Nam
        §  Nữ

        =Tuổi
        =Tuổi- 10
        Môi trường sống : sống ở nhà dưỡng lão
        10
        Bệnh kèm
        Ung thư
        Bệnh gan
        Suy tim sung huyết
        Bệnh mạch máu não
        Bệnh thận

        30
        20
        10
        10
        10
        Lâm sang
        Rối loạn ý thức
        Nhịp thở > 30l/ph
        HATTh < 90mmHg
        Nhiệt độ < 35 độ C hay >41 độ C
        Mạch >125 l/ph

        Cận lâm sang
        pH > 7,35
        BUN >
        Na+ < 130mEq/l
        Glucose > 13,9mmol/l
        Hct < 30%
        PaO2 < 60mmHg
        Có tràn dịch màng phổi

        20
        20
        15
        15
        10


        30
        20
        20
        10
        10
        10
        10

        Đánh giá nguy cơ và khuyến cáo

        Nhóm nguy cơ
        Số điểm
        Tử suất(%)
        Điều trị
        I

        0,1
        Ngoại trú
        II
        ≤70
        0,3
        Ngoại trú
        III
        71-90
        0,9
        Nội trú (ngắn hạn)
        IV
        91-130
        9,3
        Nội trú
        V
        >130
        27
        ICU

        B>  Theo BTS (British Thoracic Society) dựa vào bảng điểm CURB-65
        Đánh giá nguy cơ và khuyến cáo
        •       C = Confusion: lẫn lộn, mất định hướng không gian và thời gian, không nhận ra người thân 
        •       U = Uremia: BUN > 7 mmol/L (20 mg/dl) 
        •       R = Respiratory Rate ≥ 30 lần/phút
        •       B = Blood Pressure: HA tâm thu < 90 mmHg hoặc HA tâm trương ≤ 60 mmHg 
        •       65 = Tuổi ≥ 65

        Số yếu tố nguy cơ
        Tử suất (%)
        Khuyến cáo điều trị
        0
        0,7
        Ngoại trú
        1
        2,1
        Ngoại trú
        2
        9,2
        Nội trú ngắn hạn
        3
        14,5
        Nội trú
        4
        40
        ICU
        5
        57
        ICU

        C> Theo ATS (American Thoracic Society)
        • 04 tiêu chuẩn chính
        1. Cần thở máy
        2. Tăng tổn thương phổi trên GP > 50% trong 48h
        3.  Sốc nhiễm trùng hay cần dùng vận mạch trong 4h
        4. Suy thận cấp ( lượng NT < 80ml /4h hay Cre >2,0mg% trên bn không có suy thận trước đó)

        ==> Chỉ cần 1/4 tiêu chuẩn chính là nặng
        • 05 tiêu chuẩn phụ
        1. Nhịp thở >30l/ph
        2. PaO2/ FiO2 < 250
        3. Viêm phổi 02 bên
        4. Viêm phổi nhiều thuỳ
        5.  HA < 90/60mmHg
        Tiêu chuẩn ICU
        • Có 01 tiêu chuẩn chính : Thở máy hay sốc nhiễm trùng
        • Có 2/3 tiêu chuẩn phụ : PaO2 / FiO2 < 250 ; viêm phổi nhiều thuỳ; HA max < 90mmHg
        3. Chẩn đoán tác nhân
        Dựa vào cấy bệnh phẩm hay huyết thanh chẩn đoán. Tuy nhiên, 50% không rõ bệnh nguyên. 18%  có phối hợp vk điển hình và không điển hình.

        VI. ĐIỀU TRỊ
        1. Lựa chọn kháng sinh ban đầu
        • Còn nhiều khó khăn, bất cập
        • Chọn lựa theo kinh nghiệm
        2. Một số nguyên tắc chọn lựa
        •  Dùng ks trong vòng 08h sau nhập viện theo kinh nghiệm
        • Tránh ks phổ rộng không cần thiết
        • Thời gian dùng ks tuỳ từng tác nhân, mức độ và bệnh kèm
                      1. Phế cầu và VK khác : 7-10 ngày
                      2. C. pneumoniae ,M.pneumoniae, Legionella : 10 -14 ngày.
                      3. BN có ức chế MD và dùng corticoides lâu ngày : >14 ngày
        • Phải dùng đủ liều
        • Chọn ks diệt khuẩn
        • Dùng ks theo dược động học
        • Không nên thay ks trong vòng 72h đầu trừ khi bệnh nặng hơn hay kết quả vi trùng không phù hợp
        • Chuyển sang uống khi giảm ho, hết sốt ít nhất 02 lần cách nhau 8h và bn có thể uống được
        • Xuất viện khi lâm sàng ổn định và đã chuyển sang uống


        3. Các điều trị khác
        • Dinh dưỡng
        • Nước, điện giải
        • Giảm đau nếu có đau ngực nhiều
        • An thần
        • Oxy liệu pháp khi có suy hô hấp
        • Thuốc giảm ho khi thật sự cần thiết ( ho nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ)
        VII. THEO DÕI
        1.      Lâm sàng :
        §  Sốt, ho, khó thở, rale phổi
        §  BC máu, CRP
        §  GP : thường sang thương phổi trên XQ cải thiện chậm, có thể nhiều ngày.
        2.      Tiêu chuẩn xuất viện
        §  Hết sốt >48 giờ
        §  Hết khó thở
        §  Bạch cầu/máu, CRP cải thiện
        §  GP cãi thiện ít
        §  Kháng sinh dung được bằng đường bớt


        Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

        Cách khám hô hấp

        Rất quan trọng, giúp
        • Phát hiện bệnh
        • Hướng đến các CLS cần thiết
        Cần khám toàn bộ
        • Mũi họng, thanh quản, khí phế quản
        • Phổi, màng phổi
        • Lồng ngực, các cơ hô hấp.
        I. KHÁM TOÀN THÂN

        1. Tư thế người bệnh

        Bn ngồi hoặc nằm nghiêng, bộc lộ vùng ngực.
        Chú ý :
        • Người bệnh phải ở tư thế nghỉ ngơi, các cơ thành ngực không co cứng.
        • Thở đều, bằng mũi
        2. Khám toàn thân:
        • Nhìn da và niêm mạc
        • Vẻ mặt
        • Lồng ngực
        • Ngòn tay, ngòn chân
        • Nhịp thở
        Thầy thuốc có thể thay đổi tư thế người bệnh để quan sát rõ hơn.

        2.1. Da và niêm mạc:
        • Màu da: da đen từng mảng có thể gặp ở người lao thượng thận, da và niêm mạc tím, kèm khó thở, phù gặp ở người suy tim.
        • Các tổn thương ở da: sẹo do chấn thương cũ: do phẫu thuật ở lồng ngực, sao răn rúm dính vào xương sườn thường là di tích của lao xương, lỗ dò có mủ là triệu chứng của nung mù ở thành ngực hay ở sâu trong phổi, ở màng phổi, các nốt phỏng có khoảng gian sườn hướng tới chẩn đoán zona.
        • Phù: ấn vào da thấy lõm. Phù toàn thân hướng tới một nguyên nhân toàn thân như viêm thận mãn tính, suy tim. Phù cục bộ theo kiểu áo khoác là dấu hiệu chèn ép trung thất, phù ở một bên, ở đáy lồng ngực, thường thấy trong viêm mủ màng phổi. Tĩnh mạch bằng hệ ở lồng ngực gặp trong chèn ép trung thất. Một khối u ở lồng ngực đập theo mạch, hướng tới túi phình động mạch chủ hay một khối mủ.
        • Hệ thống mạch: chú ý tìm hạch to ở hố trên đòn, hố nách, hạch cổ. Hạch to có thể do viêm cấp hay mạn tính như lao, do một bệnh nhân, hay do ung thư hạch hoặc di căn của một ung thư, như ung thư phế quản, dạ dày…
        2.2. Các móng và ngón tay, chân: móng tay, móng chân khum như mặt kính đồng hồ, có khi cả đầu ngòn tay, ngón chân đều tròn bè như dùi trống, thường gặp trong nung mủ mạn tính ápxe phổi, trong bệnh tim- phổi mạn tính, trong hội chứng Pierre Marie mà nguyên nhân phần lớn là u phổi.

        2.3. Vẻ mặt:
        • Khó thở: cánh mũi đập, mồm có thể há ra khi hít vào, các cơ trên mòng dưới móng, cơ ức- đòn – chũm co kéo, làm lõm hồ trên ức. Tình trạng này thường kèm với hoạt động quá mức của các hô hấp, gây co kéo các khoảng gian sườn, hõm dưới sụn ức hay mũi kiếm.
        • Bộ mặt V.A: Do tổ chức tân ở vòm hầu phì đại, nguyên nhân có thể là nhiễm khuẩn mạn tính, phần sau của mũi bị bịt lại một phần, đứa trẻ phải thở bằng miệng, dần dần vòm khẩu cái biến dạng, khum lại. Quan sát ta thấy bộ mặt ngơ ngác, miệng thường xuyên hơi há, lỗ mũi hếch lên sang hai bên, hai gò má hẹp lại vì xương hàmtrên kém phát triển. Ngoài ra tai trẻ có thể nghễnh ngãng vì lỗ vòi Eustachi cũng có thể bị tổ chức tân bịt lại.
        II- KHÁM ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN

        Là khám từ mũi tới thanh khí quản. Lần lượt khám, mũi, họng, thanh quản.

        Không thể bỏ qua thì khám này được, vì trong nhiều trường hợp, nguyên nhân bệnh lý của đường hô hấp trên, không khám toàn diện không thể có hướng điều trị đúng được: ớ một đứa trẻ, sốt, ho, khó thở, có thể là triệu chứng gợi ý ta khám kỹ họng, tìm tuyến hạnh nhân hay V.A to, có khi giả mạc bạch hầu và nếu không nhận xét kỹ, rất dễ bỏ qua. Một người có khi khó thở kiểu hen phế quản, phải được khám đường hô hấp trên, vì có cơn khó thở đó là do viêm thắt thanh, khí quản.

        1. Tư thế người bệnh và cách khám.
        • Phải khám dưới ánh sáng rõ. Nếu là trẻ em hay giãy giụa, chống cự, cần để ngồi trên lòng của người phụ khám. Người này để lưng đứa trẻ dựa vào ngực mình, và vòng một cánh tay giữ hai tay đứa trẻ, tay kia đặt lên trán kéo nhẹ đầu ra sau, còn hai chân kẹp chặt chân em bé lại. Nhiều người bệnh thè hoặc uốn cong lưỡi lên, rất khó khám: bảo họ ngậm miệng, để lưỡi ở vị trí bình thường, nghĩa là răng cửa, sau đó, vẫn để lưỡi ở chỗ cũ, và há mồm ra, dùng đè lưỡi ấn xuống phần sân nhất của mặt trên lưỡi, đè nhẹ nhàng xuống sẽ thấy rõ họng mà không gây phản xạ nôn. Đôi khi tuyến hạnh nhân lẫn vào trong các cột trước và sau, ta có thể ấn đè lưỡi mạnh vào nền lưỡi, gây ra phản xạ buồn nôn, khi đó hai cột trước tuyến hạnh nhân kéo ra ngoài, để lộ rõ tuyến. Bảo người bệnh phát âm chữ “a”, sẽ làm mở rộng cổ họng, dễ quan sát hơn.
        • Thăm vòm họng bằng ngón tay: Thầy thuốc đứng sau lưng người bệnh một tay ấn ngón trỏ vào má, giữ hai hàm răng cho người bệnh không ngậm miệng được, tay kia dùng ngón trỏ hơi gấp cong lại luồn qua lưỡi gà, tập trung ánh sáng vào vùng khám.
        • Khám mũi và thanh khí quản: cần phải dùng gương phản chiếu và ống soi. thăm khám mũi họng nên dùng gương Clar, một loại gương lõm có mắc đèn ở giữa, tập trung ánh sáng vào vùng khám.
          Trước khi tiến hành thăm khám, cần chú ý tới một số triệu chứng chỉ điểm.

        - Hơi thở: bình thường hơi thở không có mùi. Hơi thở hôi gặp trong:
        • Tổn thương ở miệng: sâu răng, viêm lợi, viêm họng, cam tẩu mã, ung thư ở miệng.
        • Rối loạn tiêu hoá.
        • Viêm xoang mặt, viêm tuyến hạnh nhân, ápxe phổi.
        - Tiếng thở, tiếng nói: chèn ép ở họng, thanh quản, gây ra tiếng thở khò khè: apxe thành sau họng, bạch hầu thanh quản. Tiếng nói khàn trong viêmhọng,viêm thanh quản.
        • Nuốt khó, đau: viêm họng, viêm tuyến hạnh nhân cấp.
        • Ù tai: thường gặp đối với những trường hợp viêm V.A to.
        2. Khám thực thể:

        2.1. Họng: chú ý niêm mạc, các tuyến hạnh nhân V.A các cột.
        • Viêm họng đỏ: toàn bộ niêm mạc họng đỏ, các tuyến thuộc hệ thống hạch tân trong họng to hoặc không. Viêm họng đỏ có nhiều nguyên nhân: cúm sởi, nhiễm khuẩn nhiều loại: tụ cầu, liên cầu và bạch cầu ở giai đoạn đầu.
        • Viêm họng trắng: xuất hiện một màng trắng, phủ một phần hoặc toàn bộ họng. Màng trắng hay giả mạc, là chất tơ huyết được tiết ra qua niêm mạc bị viêm.
                 Nguyên nhân đầu tiên nên nghĩ tới là bệnh bạch hầu, cần ngoáy họng đem soi trực tiếp và cấy bệnh phẩm để xác định chẩn đoán.
                 Ngoài ra còn một số bệnh khác cũng gây giả mạc ở họng, chẩn đoán phân biệt với bạch hầu chủ yếu là kết quả của xét nghiệm ngoáy họng:
        • Viêm họng loét có giả mạc của Vincent do một loại xoắn khuẩn.
        • Viêm họng hoại tử trong nhiểm khuẩn toàn thân nặng.
        • Viêm họng trong bệnh máu: bệnh bạch hầu.
        • Viêm họng giang mai thời kỳ II.
        2.2. Các tuyến bạch huyết: bình thường có thể thấy tuyến hạnh nhân nằmsâu giữa các cột trước và sau, hoặc có cuống, có hốc. Trường hợp viêm nói chung V.A và các tuyến hạnh nhân đều to, gây ra một số rối loạn về hô hấp, thính giác và tiếng nói.

        2.3. Vòm họng: thăm vòm họng có thể thấy V.A to, lổm nhổm trong trường hợp bệnh lý.

        Thăm họng, thăm họng bằng ngón tay, còn có thể phát hiện apxe thành sau họng: bình thường, ấn ngón tay vào xương cứng qua niêm mạc, khi có cổ ápxe sẽ thấy người bệnh đau, và ngón tay sờ thấy một vùng mềm, bùng nhùng dưới niêm mạc.

        2.4. Mũi: quan sát niêm mạc mũi, vách mũi, các xương cuốn.

        2.5. Thanh quản: soi thanh quản có thể thấy các triệu chứng của viêm, u liệt dây thanh âm hoặc thấy dị vật.

        Soi thanh quản, khí phế quản đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật nhất định, người thầy thuốc nội khoa phải biết hướng chỉ định các thủ thuật này.

        III- KHÁM LỒNG NGỰC

        Chiếm một phần quan trọng trong thăm khám lâm sàng về hô hấp.

        1. Nhắc lại phân khu lồng ngực.

        Khi hám lồng ngực, thầy thuốc bắt buộc phải nắm được phân khu lồng ngực và các hình chiếu của các tạng lên thành ngực.

        1.1. Phía trước (Hình 18): Kẻ ba đường thẳng theo chiều dọc:
        • Đường giữa, qua giữa xương ức.
        • Đường cạnh ức: đi từ khớp ức đòn, dọc theo bờ ngoài của xương ức.
        • Đường giữa đòn qua điểm giữa xương đòn.
        • Ngang: từ trên xuống dưới, người ta chia ra:
        • Hố trên đòn: hình tam giác, đáy là xương đòn, phía trong là bờ ngoài xương ức, phía ngoài là cơ delta, phía dưới là bờ dưới cơ ngực to.
        • Các khoảng gian sườn: đếm theo thứ tự từ trên xuống.
                 Khoảng gian sườn 1 ở dưới xương sườn 1 chứ không phải dưới xương đòn.

                 Các đường dọc chia các vùng ngang thành những vùng nhỏ, có thể xác định được dễ dàng khi thăm khám.




        1.2. Phía sau.


        Hình 19

        Dọc, kẻ hai đường thẳng:
        • Đường giữa: qua các mỏm gai cột sống.
        • Đường bên: dọc bờ trong xương bả vai.
        Ngang, kẻ hai đường:
        • Đường qua gai xương bả vai.
        • Các phần trên phân chia lưng làm ba vùng: trên, giữa, dưới, mỗi vùng lại chia ra hai vùng: trong và ngoài.
        • Vùng trên: hố trên gai hay trên vai; vùng ngoài gọi là hố trên gai hay trên vai chính thức: vùng trong, ở phía trong xương bả vai. Vùng này tương ứng với đỉnh phổi.
        • Vùng giữa: vùng ngoài là hố dưới gai, vùng trong là khoảng liên bả cột sống, khoảng này tương ứng với nửa trên với rốn phổi, và toàn bộ với bờ sau của phổi.
        • Vùng dưới: còn gọi là vùng dưới vai, tương ứng với đáy phổi và túi cùng màng phổi sau – dưới.
        1.3. Ở bên . Kẻ ba đường dọc song song.
        • Đường nách trước, kẻ từ bờ trước của hố nách, hay là bờ ngoài cơ ngực to.
        • Đường nách sau, kẻ từ bờ sau hố nách, hay là bờ ngoài cơ lưng to.
        • Đường nách giữa kẻ từ đỉnh hố nách.
        Kẻ một đường ngang, qua hai núm vú, chia vùng bên ra hai vùng: nách trên và nách duới.
        Vùng nách cũng có thể chia ra hài vùng trước và sau đường nách giữa.

        2. Hình chiếu của các tạng sâu trong lồng ngực.

        Các phân khu lồng ngực giúp ta xác định vị trí, gọi lên các vùng chiếu của các tạng trong lồng ngực. (Hình 20,21,22)










        2.1. Đáy phổi:

        - Bên trái: đi từ sụn sườn 6 xuống dọc theo bờ trên xương sườn 7, rồi tới bờ dưới xương sườn 7 trên đường nách giữa, xương sườn 9 trên đường nách sau, xương sườn 11 khi tới cột sống.
        - Bên phải: đáy phổi cũng theo con đường tương tự, nhưng vì có gan nên chỉ tới xương sườn 10 ở phía sau.

        2.2. Bờ trong phổi:

        - Bên phải: đi từ khớp ức đòn, đi thẳng góc tới khớp sụn sườn 6, nối tiếp với đáy phổi.
        - Bên trái: đường đi tương tự, nhưng tới xương sườn 4 thì quặt ra ngoài, tạo thành một khoảng lõm trong có tim, rồi đi xuống, nối tiếp với đáy phổi.

        2.3. Màng phổi: bọc lấy phổi và tạo thành các túi cùng. Ở phía dưới và trước, nhất là trên đường nách sau, túi cùng lớn nhất, có thể sâu tới 2-5 cm. túi cùng giữa phổi và màng tim vùng trước tim cũng rất lớn, khi bị viêm, có thể là nơi xuất phát của tiếng cọ theo nhịp tim.

        2.4. Rãnh liên thuỳ:

        - Bên trái: rãnh liên thuỳ đi từ phía sau, mức xương sườn 3, cắt xương sườn 4 trên đường nách giữa, rồi đi chéo xuống phần trước của xương sườn 7.
        - Bên phải: rãnh liên thuỳ trên tách khỏi rãnh dưới và đi lên trên, ra phía trước. Thường rãnh này qua gian sườn 2 trên đường nách giữa.

        2.5. Rốn phổi: chiếu ở trước lên gian sườn 3, sau bờ xương ức, ở phía sau lên khoảng liên bả cột sống, ở khoảng gian sườn 5

        2.6. Nếu kẻ một đường ngang phía trước ngực, đi qua nền mũi ức, ta chia ra hai vùng: ở trên đường ngang là các tạng ở ngực, ở dưới là các tạng của bụng.

        - Bên phải là vùng đục của gan.
        - Bên trái là vùng vang trống: khoảng Traube. Khoảng này hình bán nguyệt, ranh giới phía dưới là bờ sườn, phía trên là một đường gãy, đi từ sụn sườn 6, dọc theo bờ dưới khoảng đục của tim, rồi tới phần dưới khoảng trong của phổi, bờ trước khoảng đục của lách, rồi với bờ dưới ở xương sườn 10 trên đường nách.
        - Gõ vùng này thấy vang trống, vì có túi hơi dạ dày. Ranh giới của khoảng Traube có thể thay đổi do nhiều nguyên nhân: vòm hoành trái lên cao do túi hơi dạ dày, do liệt cơ hoành. Vòm hoành hạ thấp do có nước ở màng phổi làm mất khoảng trong đó.

        3. KHÁM LÂM SÀNG
        1.1. Nhìn: nhìn hình thái toàn bộ lồng ngực, quan sát nhịp thở nếu cần, đo vòng lồng ngực, chú ý kết hợp với quan sát toàn thân (xem phần thăm khám hô hấp trên lâm sàng).
        a. Quan sát phần mềm: chú ý nhìn hố trên đòn, các khoảng gian sườn, các nhóm cơ ở ngực: ở người gầy, các hố trên đòn và các khoảng gian sườn lõm xuống. Một số người ít luyện tập hoặc gầy mòn, các cơ gian sườn, cơ ngực trên và dưới gai xương bả, cơ cùng lưng, bị teo lại, nên có dáng lom khom, vai so ra phía trước, ngực lép, lưng cong, xương bả vai nhô ra như hai cánh.
        b. Quan sát khung xương: chú ý hình thái chung và sự cân xứng của lồng ngực.
        • Lồng ngực còi xương có chuỗi hạt sườn, là nốt to ở chỗ tiếp xúc giữa xương sườn và sụn sườn, xương ức nhô ra phía trước, tạo nên hình mũi thuyền, hoặc ngược lại lõm vào trong như hình phễu.
        • Lưng gù bẩm sinh hayy hậu phát (tai nạn, lao cột sống).
        • Lưng vẹo: cột sống cong theo chiều ngang, gây ra tình trạn gmất cân xứng của lồng ngực và vai: vai cao vai thấp.
        • Lồng ngực giãn phế nang nặng: giãn to về mọi phía, các khoảng gian sườn giãn, phồng làm lồng ngực có hình thùng.
        • Lồng ngực mất cân xứng do tổn thương các tạng ở trong:
            • Gĩan to một bên: tràn dịch, tràn khí màng phổi.
            • Xẹp một bên: Di chứng viêm màng phổi gây dày dình, xẹp phổi.
        • Lồng ngực phồng ở dưới do gan, lách to, cổ trướng.
        • Viêm cơ, u xương ức, xương sườn, cột sống: gây ra khối u ở một vùng trên lồng ngực.
        c. Quan sát nhịp thở: bình thường người lớn thở 16-20 lần trong một phút, nhịp đều, biên độ trung bình. Khi hít vào, cường độ hô hấp mạnh hơn nhưng thời gian ngắn hơn khi thở ra.
        Những thay đổi bất thường về nhịp thở: tần số, biên độ, nhịp, trên lâm sàng gọi là khó thở.
        - Kiểu thở: người ta chia làm ba loại:
        •  Kiểu trên: gặp ở phụ nữ, do phần tr6en của lồng ngực hoạt động mạnh hơn. Hiện tượng này sẽ thể hiện rõ rệt nếu đeo nịt vú chặt, hạn chế cử động của cơ hoành.
        • Kiểu sườn: gặp chủ yếu ở thiêu niên, do xương sườn mềm dễ co giãn lồng ngực giãn nở theo chiều ngang rất rõ khi hô hấp.
        • Kiểu hoành: gặp ở trẻ em và nam giới đã trưởng thành: cơ hoành đóng vai trò chủ yếu trong hô hấp, xương sườn là thứ yếu.
        - Các kiểu trên thay đổi trong một số trường hợp bệnh lý: đau thần kinh gian sườn trên làm phụ nữ phải thở yếu bằng cơ hoành: trong tràn dịch màng phổi trên cơ hoành, nam giới bị thở chủ yếu bằng cơ gian sườn trên hoặc chỉ thở bằng phổi bên lành.

        - Khoảng gian sườn kém di động ở toàn bộ lồng ngực trong giãn phế nang, hoặc ở một bên ngực trong tổn thương khu trú: xẹp phổi, có nước, thở ở màng phổi.

        - Nếu có tắc ở đường hô hấp trên (thanh, khí quản), thở có tiếng khò khè và nhìn sẽ thấy co kéo trên và dưới ức: cơ chế của hiện tượng này là vì co chèn ép, trong thì hít vào, áp lực trong lồng ngực dưới tác dụng các cơ hô hấp càng trở nên âm tính, các phần mềm của thành ngực bị hút, tạo nên những khoảng lõm, co kéo lên xuống trong các thì hô hấp.

        - Một khoảng vồng to lên khi thở ra: là dấu hiệu của tràn mủ màng phổi thoát ra ngoài, hoặc hiếm gặp hơn, của thoát vị phổi. Nếu toàn bộ lồng ngực phồng to khi thở ra và chủ yếu ở khoảng trên đòn thì có thể là dấu hiệu của giãn phế nang.

        1.2. Đo: đo lồng ngực giúp ta đánh giá được chu vi, sự co giãn và tình trạng cân xứng hay không của lồng ngực, trên thực tế, người ta hay dùng thước dây. Đo vòng ngực theo Hirtz có 3 mốc.
        - Ngay dưới hố nách.
        - Trên đường ngang qua númvú.
        - Trên đường ngang đi giữa đỉnh góc bờ sườn, nền mũi ức và bờ dưới xương sườn 10.

        Đo ở thì hít vào và thở ra cố. Đối với phụ nữ nên đo ở đường qua hai hố nách.
        - Người ta coi là bình thường, hiệu số giữa chu vi lồng ngực, khi hít vào và thở ra là 6 -7 cm (chỉ số hô hấp).
        - Có thể đo riêng rẽ hai bên lồng ngực bằng hai thước đo, lấy mõm gai các cột sống và đường giữa ngực làm mốc
        - Chỉ số hô hấp thấp trong các trường hợp hạn chế hô hấp: tràn dịch, tràn khí màng phổi, giãn phế nang.v.v…
        1.3. Sờ: nhắm thăm dò hình thái và động tác hô hấp, và chủ yếu là sự dẫn truyền của rung thanh qua xúc giác và các tiếng phụ bất thường (tiếng rên, cọ…).
        a. Thăm dò hình thái lồng ngực và động tác hô hấp: bàn tay áp hẳn vào thành ngực, lần lượt thăm dò toàn bộ lồng ngực: khung xương, các nhóm cơ, độ giãn nở các khoảng gian sườn trong khi thở. Có thể bổ sung thêm tài liệu cho giai đoạn nhìn:
        - Thay đổi các khung xương, các nhó cơ.
        - Các khoảng liên sườn kèm hoặc không giãn nở trong tràn dịch, tràn khí ở màng phổi, xẹp phổi.
        - Các điểm đau của dây thần kinh gian sườn.
        - Lạo xạo của xương sườn gãy, đi cùng với điểm đau khu trú.

        b. Thăm dò rung thanh: rung thanh xuất phát từ dây thanh âm, truyền ra thành ngực và cổ, rõ nhất ở thanh khí quản, vùng trên gai trong rồi tới hố dưới đòn, khoảng liên bả cột sống. Vùng sau và bên của lồng ngực, xương ức và hố trên gai.
        Cường độ rung thanh phụ thuộc vào cường độ rung của dây thanh âm và độ dày của thành ngực. Ở người giá yếu, phụ nữ và trẻ con rung thanh kém hơn ở thanh niên khoẻ mạnh. Người béo có rung thanh ít hơn người gầy.

        c. Cách tìm rung thanh: áp lòng bàn tay lên thành ngực ở các vị trí đối xứng và bảo vệ người đếm: “ một, hai, ba”. Nếu muốn rung mạnh và nếu muốn phân tích một cách tỷ mỉ rung thanh ở một vùng thì dùng cạnh bàn tay hoặc đều các ngòn tay, nhưng cũng đặt ở vị trí đối xứng mới có thể nhận xét được những thay đổi bệnh lý vì do những sự khác nhau về giải phẫu và sinh lý, người ta không thể quy định, những tiêu chuẩn cụ thể về mặt âm học đối với hô hấp chung cho tất cả mọi người.

        d. Những thay dổi bệnh lý:
        - Rung thanh mất: nếu dây thanh âm không hoạt động được (suy nhược liệt dây thanh âm…). Ngoài ra ta còn thầy những thay đổi sau đây: tăng, giảm, mất, trong các bệnh đường hô hấp.
        - Rung thanh tăng: trong các trường hợp đông đặc nhu mô phổi: viêm phổi, nhồi máu động mạch phổi,v.v…
        Nhưng cũng có trường hợp rung thanh tăng do mô phổi hoạt động bù, khi đó rì rào phế nang mạnh lên, và gõ cũng trong hơn, hiện tượng này có thể gặp ở phía trên ranh giới vùng có nước ở màng phổi. Người ta còn thấy rung thanh tăng ở vùng phổi lành hoạt động bù, lan sang vùng bệnh, có thể lan ở một bên phổi đối diện. cho nên trong một số trường hợp tràn dịch hoặc tràn khí ở màng phổi, lại có rung thanh ở bên bệnh.
        - Rung thanh không thay đổi: nếu tổn thương ở phổi không rộng lớn và ít ảnh hưởng tới tính chất dẫn truyền của nhu mô, thì không thấy rõ sự thay đổi của rung thanh: viêm phổi không điển hình, tràn dịch nhẹ ở màng phổi, v.v…
        Do đó chúng ta cần phải kết hợp nhiều phương pháp trên lâm sàng để có chẩn đoán đúng.

        1.4. Gõ: nhằm đánh giá độ vang của phổi, một tổ chức rỗng, để biết sự thay đổi của nó trong các trường hợp bệnh lý.
        a. Phuơng pháp gõ: có hai phương pháp: trực tiếp và gián tiếp.
        - Phương pháp gõ trực tiếp: dùng các ngòn tay gấp khum lại, hoặc lòng bàn tay mở rộng. Phương pháp này cho biết một cách khái quát độ trong, đục của toàn bộ lồng ngực, nhưng làm cho người bệnh đau và cũng không xác định kỹ được các vùng tổn thương.
        - Phương pháp gõ gián tiếp: gõ qua trung gian một vật khác; trước kia người ta dùng một miếng gỗ, kim loại, ngà hoặc thuỷ tinh: hiện nay người ta dùng các ngòn tay bên kia để làm trung gian.
        Bàn tay trái, nhất là ngón giữa, áp chặt vào lồng ngực và trên các khoảng liên sườn. Ngón gõ của bàn tay phải, gặp cong lại, sao cho đốt thứ ba gõ thẳng góc với đốt giữa ngón trái. Chú ý khi gõ phải chuyển động cổ tay hoặc khắp bàn tay với ngón tay. Gõ nhẹ khi muốn thăm dò phần nông của phổi, gõ mạnh nếu tìm những thay đổi ở sâu. Phải gõ đều tay, nghĩa là với cùng một cường độ, và phải so sánh các vùng đối xứng.
        b. Kết quả: tính chất gõ trong hay đục phụ thuộc vào cấu trúc xủa lồng ngực, chiều dày của thành ngực, khả năng co giãn của nhu mô phổi và thể tích không khí trong phế nang.
        Tiếng gõ gồm có ba thành phần: Cường độ, âm độ, âm sắc.
        - Cường độ phụ thuộc vào biên độ dao động do gõ gây nên, và thay đổi theo:
        - Chiều dày của cơ và lớp da: cường độ lớn nhất ở vùng dưới đòn và nách, nhỏ nhất ở hố trên gai, trung bình ở đáy.
        - Thể tích và áp lực không khí trong phế nang. Hít vào gõ vang hơn khi thở ra.
        + Ở phía trước:
        • Bên phải: Cường độ giảm từ trên xuống dưới, và từ liên sườn 6 hay 7 là vùng đục của gan.
        • Bên trái: Cường độ cũng giảm từ trên xuống dưới, nhưng tới khoảng Traube lại tăng lên vì đây là vùng túi hơi dạ dày. Từ xương sườn 4, phía trong là khoảng đục của tim.
        + Ở phía sau: cường độ lại tăng dần từ trên xuống dưới ở hai bên lồng ngực.
        • Âm độ phụ thuộc vào tần số dao động do gõ gây nên: những tiếng cao có âm độ cao đều, khô, gọn. Những tiếng trầm có âm độ thấp đều êm và kéo dài.
        • Âm sắc: chỉ thấy biểu lộ rõ trong các trường hợp bệnh lý, ví dụ: hang to, tràn khí màng phổi, gây nên những hoà âm đặc biệt
        - Thay đổi bệnh lý: có thể làm thay đổi riêng lẽ từng thành phần của tiếng gõ, nhưng trong đa số các trường hợp, cường độ, âm độ và âm sắc đều thay đổi.
        Thay đổi cường độ: cường độ tăng, gõ vang, cường độ giảm, gõ đục, đục ít hay hoàn toàn.
        • Cường độ tăng: trong các trường hợp tăng thể tích không khí trong phế nang: giãn phế nang, tràn khí màng phổi, hang phổi lớn ở nông, phổi hoạt động bù…
        Trong giãn phế nang và tràn khí màng phổi, gõ vang, âm độ trầm. Nhưng nếu thể tích không khí tăng nhiều, âm độ lại cao nên dễ nghe nhầm với tiếng gõ đục.
        Trong tràn dịch màng phổi trung bình, tổ chưc phổi lành xung quanh hoạt động bù, gõ vang, gọi là triệu chứng Skoda.
        + Cường độ giảm: bình thường nếu thành ngực dày quá, gõ cũng đục. Trong trường hợp bệnh lý, tiếng gõ đục khi nhu mô phổi hoặc túi màng phổi tăng mật độ: viêm phổi, tràn dịch màng phổi…
        Nói chung, trong viêm màng phổi có nước hoặc dày màng phổi, và viêm phổi trên một diện rộng gõ sẽ đục nhiều hơn là dòng đặc phổi ở một diện nhỏ
        Thay đổi âm độ: trong trường hợp bệnh lý, không phải lúc nào âm độ cũng thay đổi theo cường độ, nghĩa là khi âm độ cao thì cường độ giảm. Nhiều khi có hiện tượng ngược lại, ví dụ như trong tràn khí màng phổi có áp lực cao, âm độ cao có thể làm ta nhần tiếng vang ra tiếng đục.
        Thay đổi âm sắc:
        + Tiếng gõ vang hay vang kim loại: Nghe giống tiêng gõ lên vệt bằng kim khí, gặp trong hang lớn, đường kính trên 6cm, vách nhẵn, và trong tràn khí màng phổi.
        + Tiếng gõ bình nứt: nghe rè rè như tiếng gõ vào bình sứ bị nứt, gặp trong hang lớn ở nông, chỉ thông với phế quản bởi một khe nhỏ. Tiếng rè rè này chỉ thấy ở vùng dưới đòn, sau khi người bệnh hít mạnh vài cái. Vì nếu ta gõ nhiều, không khí còn lại trong hang sẽ ra khe phế quản ra hết và mất tiếng rè, nên chỉ sau khi hít lại, hang mới đủ căng để tiếp tục gây ra hiện tượng trên.

        c. Giá trị của gõ: gõ có thể phát hiện được vùng tổn thương tương đối rộng, ở nông, và xác định được tương đối chính xác vị trí của tổn thương. Nhiều khi bằng cách gõ có thể phát hiện được một khoảùng đục nhĩ, do một lớp nước mỏng ở màng phổi, mà Xquang lại không thấy.
        1.5.Nghe: Nghe là phương pháp cho ta nhiều tài liệu nhất trong khi khám thực thể ở phổi, có nhiều tổn thương mà chỉ có nghe phát hiện được: tiếng cọ màng phổi trong viêm phổi khô, tiếng rên phế quản trong viêm phế quản, mà không một phương pháp lâm sàng nào khác và cả Xquang nữa, có thể thấy được.

        a. Phương pháp nghe: có hai phương pháp: nghe trực tiếp bằng tai áp trên lồng ngực và nghe dán tiếp bằng ống nghe.
        - Nghe trực tiếp: không tiện vì không nghe được ở những vùng khó áp tai như hố nách, hố trên đòn, và cũng vì tư thế không được thoải mái, nhất là đối với phụ nữ.
        - Nghe gián tiếp: dùng ống nghe. Có nhiều loại. Phần lớn đều làm chomột người nghe và có hai càng, cũng có loại có 4 càng, cho hai hoặc 4 người nghe.
        Thầy thuốc nghe tất cả các vùng đối xứng, không quên hố nách.
        Chú ý nghe:
        + Tính chất tiếng thở ơ hai thì hô hấp.
        + Các tiếng bất thường: rên, thổi, cọ…
        + Sự thay đổi của các tiếng sau khi ho và nói.
        b. Kết quả:
        - Hô hấp bình thường: trong động tác thở, khi hít vào, không khi qua thanh quản, khí quản, phế quản gốc, rồi tới các phế quản nhỏ, phân phối vào các phế nang. Không khí thoát ra ngoài theo trình tự ngược lại ở thì thở ra.
        - Không khí đi qua thanh khí quản và các phế quản lớn gây ra tiếng thở thanh khí quản, có cường độ mạnh, âm độ cao, nghe thất rõ ở vùng thanh quản, khí quản, vùng xương ức, cạnh ức, và khoảng liên bả cột sống. Tiếng thở thanh khí quản bắt nguồn từ thanh môn, một khoảng hẹp trên đường đi của không khí.
        - Không khí đi qua phế quản cuối, vùng có cơ Reisessen, rồi đi vào phế nang, tức là qua vùng tương đối hẹp rồi tới vùng rộng hơn, gây ra tiếng rì rào phế nang. Tiếng rì rào phế nang nghe êm dịu, âm độ cao, âm sắc như tiếng gió thổi nhẹ qua lá cây, và liên tục trong toàn bộ thì hô hấp. Trên lâm sàng vì áp lực, không khí vào phế nang trong thì hít vào lớn hơn khí thở ra nên ta nghe thì hít vào dài hơn thở ra, nhưng thực ra, phân tích trên phế đồ, ta thấy thì thở ra dài hơn hít vào 2-3 lần (Hình 23)




        - Hô hấp bệnh lý:
        - Thay đổi về cường độ:
        + Trừ trường hợp người gầy, trẻ em, thành ngực mỏng, hoặc người vừa hoạt động mạnh, hồi hộp, tiếng thở mạnh, ta thấy cường độ thở lớn ở vùng phổi lành, hoạt động bù phổi tổn thương. Hiện tượng này kèm theo tăng rung thanh và gõ trong.
        + Tiếng thở yếu hoặc mất, gặp trong các trường hợp có ngăn trở hô hấp, vật lạ, nước, hơi ở màng phổi, viêm phổi, xơ phổi. Kết hợp với những thay đổi khác về lâm sàng, ta có nhiều hội chứng khác nhau (xem mục: các hội chứng).
        - Thay đổi về nhịp thở: có thể do sinh lý hoặc bệnh lý.
        + Thay đổi về tần số: thở nhanh, hồi hộp, hoạt động mạnh, viêm phổi đố, lao kê ở phổi, tràn dịch nhiều ở màng phổi (Hình 24)


        + Thở chậm, thở không đều: gặp trong các trường hợp có rối loạn ở hành tuỷ như hôn mê do u rê huyết cao, do đái tháo đường.
        Ví dụ:
        + Nhịp thở Kussaul: người bệnh thở chậm: hít vào, nghỉ, thở ra, nghỉ rồi lại tiếp tục như trên. (Hình 25)

        + Nhịp thở Cheyne – Stokes: thở tăng dần biên độ, nhịp đều rồi thở giảm dần cường độ, sau đó nghỉ ít hoặc nhiều. Rồi lại tiếp tục như trên . Hình 26

        Thay đồi tỷ lệ hít vào và thở ra: thở ra dài hơn hít vào: hiện tượng a đảo ngược nhịp hô hấp, hiện tượng này gặp trong hen phế quản, giãn phế nang…
        Tiếng thở không liên tục, ngắt quãng: thường xảy ra ở thì hít vào, do nhiều nguyên nhân: thần kinh, xúc cảm. Viêm dính màng phổi gây co kéo phổi trong khi hô hấp. Viêm phế quản, gây tắc không hoàn toàn các nhánh phế quản.
        - Thay đổi về âm độ: thường đi kèm với thay đổi về âm sắc.
        + âm độ thấp: tiếng thở trầm thô ráp.
        + âm độ cao: Gặp trong viêm phổi, nhưng nhu mô chưa đủ đông đặc để gây ra tiếng thổi. Ở đây, cường độ thở cao, âm độ cao, và rì rào vào phế nang cũng mạnh.
        - Thay đổi về âm sắc: tiếng thở thô ráp gặp trong viêm phế quản hoặc các tổn thương khác như nhu mô phổi, viêm, lao…
        Trong khi nghe các tiếng thở, ta có thể phát hiện được các tiếng bất thường do những thay đổi cơ thể bệnh ở bộ máy hô hấp: tiếng ran, tiếng cọ, tiếng thổi… Kết hợp với các triệu chứng phối hợp khác khi thăm khám, các tiếng đó góp vào những hội chứng mà ta sẽ phân tích trong những mục sau.
        - Thay đổi tiếng ho và tiếng nói: cường độ, âm độ, âm sắc của tiếng ho và tiếng nói thay đổi theo các tổn thương ở đường hô hấp. Tiếng ho và tiếng nòi còn giúp cho chẩn đoán phân biệt một số bệnh lý ở phổi. Khi khám toàn thân, đã có thễ sơ bộ nhân xét các thay đổi bệnh lý ảnh hưởng lên tiếng ho và tiếng nói (xem mục: khám đường hô hấp trên).
        Tiếng nói: người bệnh phải nói khá to, phát những âm vang như: một,hai, ba, mỗi khi thầy thuốc đặt ống nghe lên thành ngực.
        Kết quả:
        + Tiếng vang phế quản: phản ánh tình trạng đông đặc phổi. Thường gặp trong hội chứng đông đặc, và nghe khu trú ở vùng đông đặc.
        + Tiếng ngực: nghe đếm rõ như tiếng nói xuất phát từ ngực người bệnh. Hay gặp trong hội chứng hang, nhất là hang to và nông.
        + Tiếng ngực thầm: Tiếng đếm thầm nghe rõ như xuất phát từ ngực người bệnh. Hay gặp trong hội chứng hang.
        Nhưng tiếng ngực thầm còn gặp trong nhiều trường hợp khác: viêm phổi trong tràn khí màng phổi và cả các trường hợp đông đặc kèm tràn dịch màng phổi.
        Tiếng vò: tiếng nói vang lanh lảnh như tiếng kim khí, như tiếng nói trong vò. Gặp trong tràn khí màng phổi và hang rất to, nông.